TRÒ CHƠI DÂN GIAN
TRO CHOI DAN GIAN NHẨY BAO BỐ
Cách chơi:
Người chơi chia làm hai đội trở lên, thông thường thì từ hai đến ba đội, mỗi đội phải có số người bằng nhau. Mỗi đội có một ô hàng dọc để nhảy và có hai lằn mức: một xuất phát và một mức đích.
Mỗi đội xếp thành một hàng dọc. Người đứng đầu bước vào trong bao bố hai tay giữ lấy miệng bao. Sau khi nghe lệnh xuất phát người đứng đầu mỗi đội mới nhảy đến đích rồi lại quay trở lại mức xuất phát đưa bao cho người thứ hai. Khi nào người thứ nhất nhảy về đến đích thì người thứ hai tiếp theo mới bắt đầu nhảy. Cứ như vậy lần lượt đến người cuối cùng. Đội nào về trước đội đó thắng.
2. Luật chơi:
Người chơi nào nhảy trước hiệu lệnh xuất phát là phạm luật, người nhảy chưa đến mức quy định mà quay lại cũng phạm luật. Nhảy chưa đến đích mà bỏ bao ra cũng phạm luật và có thể bị loại khỏi cuộc chơi.
Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía mình. Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.
Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng "dô ta", "cố lên".
Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Ðang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.
Thả đỉa ba ba
Trò chơi thể hiện việc qua sông, qua bưng, ruộng...ngập nước. ở dưới nước có đỉa. Cả nhóm làm sao xuống nước mà đỉa không bắt chước.
Trước hết vẽ hai đường song song cách nhau độ 2m (hay qui định khoảng trống nào đó) giả định là sông nước. Một em ra giữa vòng vừa hát vừa lấy tay ra đập nhịp vào vai các bạn:
|
Thả đỉa / ba ba |
Ðổ mắm / đổ muối |
Từ "chịu" trúng em nào thì em ấy xuống sông làm "đỉa". Bọn trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông góc nọ. "Ðỉa" rượt để bắt. Bọn trẻ lại hát bài hát ghẹo
Sang sông / về sông / trồng cây / ăn quả / nhả hạt. "Ðỉa" rượt bên này thì bên kia xuống sông. "Ðỉa" quay lại bên kia thì lũ bên nọ lại réo lên: "ăn quả / nhả hạt" rồi ào xuống. Chẳng may ai bị "đỉa" vớ phải thì trở thành "đỉa".
Đi cầu tre
Một cây tre bương to, dài 5m, phạt hết cành, đánh sạch mấu, chôn gốc sâu vào bờ, lèn chặt, để thân cây tre nhô ra ao, nằm trên mặt nước một hai gang tay. Gần đầu ngọn tre cắm một cây cọc, trên buộc một quả pháo.
Người dự thi nam nữ đều được, ăn mặc gọn gàng, thắt lưng buông múi, tay cầm một nén hương cháy.
Nghe trống hiệu, người dự thi từ bờ bước xuống cầu tre đi dần ra phía ngọn ở giữa ao. Cây tre tròn, bập bềnh, càng đi ra xa càng bị chìm xuống dưới mặt nước, thân tre tròn, trơn nước dễ ngã. Có ngã cũng phải cố giơ cao nén hương để không bị tắt mới có thể lội vào bờ đi lại.
Ra đến múp đầu cây tre, người đã ngập nước đến đầu gối, phải dang tay giữ thăng bằng, một tay níu lấy chiếc cọc, một tay châm ngòi pháo. Có khi đi được đến đích không sao, khi châm pháo nổ, lại giật mình ngã tòm xuống nước. Tuy bị ướt hết, nhưng vẫn đoạt giải, có điều nếu ai châm pháo xong, người vẫn khô được giải cao hơn.
Đó là trò “đi cầu tre đốt pháo” ở hội làng Bồ Đề (Gia Lâm).
Còn ở vùng Bưởi, nhiều làng giấy cũng có trò đi cầu tre gọi là “Đi cầu mai”.
Cách làm cầu có khác. Đóng ba cọc tre ở giữa ao đầy nước, một cọc ở bên bờ. Cột một cây tre bương to nối hai điểm cọc. Ngọn tre cột chặt vào ba cọc giữa ao. Gốc tre trong bờ buộc lỏng lẻo để cây tre có thể xoay đảo được. Đầu ba chiếc cọc giữa ao có treo các gói giải thưởng phong kín.
Cây tre đặt cách mặt nước khoảng 1m để khi người thi ra đến giữa, cây tre võng xuống cũng không chặm mặt nước.
Chân người dự thi đi đất, tre tươi dính bùn, trơn, lại lúc lắc một đầu rất khó đi. Mất thăng bằng là ngã tòm xuống ao, ướt như chuột lột. Người xem reo hò cổ vũ rất vui. Người ngã được lội vào bờ đi lại. Ngã nhiều quá, nản thì thôi.
Khi có ba người ra đến đầu ngọn tre giật được ba gói giải thì mãn cuộc.
Rồng rắn
Khoảng mươi em ôm lưng nhau, lớn đứng trước, bé đứng sau, kết chặt thành chuỗi rồng rắn, một người đứng ngoài làm thày thuốc.
Hai bên đối đáp nhau bằng bài đồng dao xin thuốc, đến lúc ngã giá đòi khúc đầu thì thày cố lôi một em ra, rồng rắn ghì nhau lượn luồn để tránh, “xin khúc giữa” rồi đến “xin khúc đuôi” cũng vậy. Ai bị thày lôi ra khỏi chuỗi người là thua, phải ra làm thày thuốc cho người thày vào thay chỗ. Trò chơi cứ thế tiếp tục.
Bài đối đáp:
Thày thuốc: - Rồng rắn đi đâu?
Rồng rắn (đồng thanh) - Rồng rắn đi lấy thuốc cho con.
Thày thuốc - Con lên mấy?
Rồng rắn - Con lên một.
Thày thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng rắn - Con lên hai.
Thày thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng rắn - Con lên ba.
Thày thuốc - Thuốc chẳng ngon.
Rồng rắn - Con lên bốn.
Tháy thuốc - Thuốc chẳng ngon.
(Đối đáp tiếp: Con lên năm, lên sáu, lên bảy, lên tám, lên chín, thày đều đáp: Thuốc chẳng ngon, cho đến)
Rồng rắn - Con lên mười.
Thày thuốc - Thuốc thày ngon vậy!
(Rồng rắn uốn lượn quanh thày)
Thày thuốc - Xin khúc đầu? (lôi)
Rồng rắn - Toàn xương với xẩu.
Thày thuốc - Xin khúc giữa?
Rồng rắn - Những máu cùng me.
Thày thuốc - Xin khúc đuôi?
Rồng rắn - Tha hồ mà đuổi...
(Thày cố kéo kỳ
Giung giăng giung giẻ
Một tốp nắm tay nhau dàn hàng ngang vừa đi vừa hát, hết bài cùng ngồi cả xuống rồi lại đứng lên đi vào hát tiếp. Chơi vào đêm trăng.
Bài hát 1:
Giung giăng giung giẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây!
Bài hát 2:
Ông giẳng ông giăng
Ông giằng búi tóc
Ông khóc, ông cười
Mười ông một cỗ
Đánh nhau vỡ đầu
Đi tâu ông huyện
Đi kiện quan phủ
Một lũ ông già
Mười ba ông điếc
Có biết hay không
Thì thà thì thụp!
Bài hát 3:
Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi với tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm xôi
Có nồi cơm nếp
Có nệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu
Con khướu đánh đu
Bồ cu tát nước
Cái lược chải đầu
Con trâu cày ruộng
Cái muống thả ao
Ông sao trên trời
Xì xà xì xụp!
Bài hát 4:
Ông tiển ông tiên
Ông có đồng tiền
Ông giắt mái tai
Ông cài lưng khố
Ông ra đầu phố
Ông mua miếng trầu
Ông nhai tóp tép
Ông mua con tép
Về ông ăn cơm
Ông mua mớ rơm
Về ông để thổi
Ông mua cái chổi
Về ông quét nhà
Ông mua con gà
Về cho ăn thóc
Ông mua con cóc
Về thả gầm giường
Ông mua thẻ hương
Về ông cúng cụ!
Chơi trăng
Ngồi quây tròn giữa sân cùng ngắm trăng cùng hát đồng dao, tất cả vỗ tay làm nhịp.
Có thể mỗi người theo thứ tự đọc một câu, hoặc đồng thanh đọc. Hết bài cùng vỗ tay một tràng dài, chơi lại.
Mồng một lưỡi trai
Mồng hai lá lúa
Mồng ba câu liêm
Mồng bốn lưỡi liềm
Mồng năm liềm giật
Mồng sáu thật trăng
Mười rằm trăng náu
Mười sáu trăng treo
Mười bảy sảy giường chiếu
Mười tám trăng lẹm
Mười chín dụn dịn
Hai mươi giấc tốt
Hăm mốt nửa đêm
Hăm hai bằng tai
Hăm ba bằng đầu
Hăm bốn bằng râu
Hăm lăm bằng cằm
Hăm sáu đã vậy
Hăm bảy làm sao?
Hăm tám thế nào
Hăm chín thế ấy
Ba mươi không trăng.
Hát đi hát lại
Hai tốp các em hát đấu, bên nào tìm được nhiều bài hát láy lại liên tục không có chấm hết là thắng cuộc. Giao ước với nhau hát điệp 3 hay 5 lần một bài, rồi đến lượt tốp khác. Mỗi bài là một điểm.
Dưới đây là một số bài:
Bài 1
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cộc leo ra leo vào
Con kiến mà leo cành đào
Leo phải cành cộc leo vào leo ra...
(Hát lại) Con kiến mà leo cành đa...
Bài 2
Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Còn cái đuôi đi sau rốt
Tôi ngồi tôi kể nốt
Cái chuyện con voi.
(Hát lại) Con vỏi con voi...
Bài ba
Con chim chích chòe
Nó đậu cành chanh
Tôi ném mảnh sành
Nó quay lông lốc
Tôi làm một chốc
Được mâm cỗ đầy
Ông thày ăn một
Bà cốt ăn hai
Còn cái thủ, cái tai
Tôi đem biếu chúa
Chúa hỏi chim gì?
Thịt chim chích chòe
(Hát tiếp) Nó đậu cành chanh...
Bài 4
Con công hay múa
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xòe cánh ra
Nó đỗ cành đa
Nó kêu ríu rít
Nó đỗ cành mít
Nó kêu vịt chè
Nó đỗ cành tre
Nó kêu bè muống
Nó đỗ dưới ruộng
Nó kêu tầm vông
(Hát lại) Con công hay múa...
Bài 5
Lúa ngô là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột là ruột dưa gang
Dưa gang là nàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu lúa ngô.
(Hát lại) Lúa ngô là cô đậu nành...
Bài 6
Xuy xoa xuy xuýt
Bán quít chợ Đông
Bán hồng chợ Tây
Bán mây chợ huyện
Bán quyến chợ Đài
Ai vào thì mua.
(Hát tiếp) Xuy xoa xuy xuýt...
Bài 7
Người đẹp như tiên
Tắm nước đồng Triền
Cũng xấu như ma
Người xấu như ma
Tắm nước ao Quà
Lại đẹp như tiên.
(Hát lại) Người đẹp như tiên...
Bài 8
Gió đập cành đa
Gió đánh cành đa
Thày ngỡ là ma
Thày vùng thày chạy
Ba thằng ba gậy
Đi đón thày về
Rượu uống tì tì
Thày say hoa mắt.
(Hát lại) Gió đập cành đa...
Bài 9
Chè la, chè lít
Bà cho ăn quít
Bà đánh đau tay
Chắp tay lạy bà.
(Hát lại) Chè la, chè lít...
Hát mày hát tao
Một tốp cùng hát đồng dao. Đoạn đầu tất cả cùng hát chung, đến đoạn “mày, tao” chia làm hai nửa hát mày, nửa hát tao theo cách đối đáp.
|
Cái cáo mặc áo em tao Làm tổ cây cà Làm nhà cây chanh Đọc canh bờ giếng Mỏi miệng thổi kèn ới cô trồng sen Cho anh hái lá ới cô trồng bưởi Cho chàng hái hoa
|
Một cụm cà là ba cụm lý Con nhà ông lý mặc áo tía tô Con nhà thằng ngô mặc áo lang khách Hai con chim khách đánh nhau trên cây Hai cái bánh dày đánh nhau mâm cỗ Hai hạt đỗ đánh đổ nồi rang Hai con kiến càng đánh nhau lọ mật Hai hòn đất đánh vật bờ ao
|
đến đây hát đối đáp
|
Nhóm A |
|
Nhóm B |
|
Mày tát chuôm tao Mày đầy rổ cá Mày đi chợ Hôm Mày bán cửa đền Mày làm mắm chua Mày con ông chính Mày là cái ả Mày đội bồ đài Mày cầm cái kéo Mày làm sao Mày đi buôn cậy Mày đi lấy chồng Mày lên kẻ chợ Ê ê! Ê ê! .........
|
|
Tao tát chuôm mày Tao đầy rổ tôm Tao đi chợ Cầu Dền Tao bán cửa vua Tao làm mắm thính Tao con ông xã Tao là cái hai Tao đội nón méo Tao cầm con dao Tao làm vậy Tao đi buôn hồng Tao đi lấy vợ Tao về nhà quê Ê ê! Ê ê! ............
|
Hát cho hát trả
Một tốp ngồi hát, mỗi người một câu, theo lần lượt vòng tròn kim đồng hồ đến hết đoạn “cho” rồi hát trở lại ngược chiều kim đồng hồ đoạn “trả”.
|
- Ông giẳng ông giăng Xuống chơi ông Chính Ông Chính cho mõ Xuống chơi nồi trõ Nồi trõ cho vung Đến chơi cây sung Cây sung cho nhựa Đến chơi con ngựa Con ngựa cho gan Đến chơi bà quan Bà quan cho bạc Đến chơi thợ giác Thợ giác cho bầu Đến chơi cần câu Cần câu cho lưỡi Đến chơi cây bưởi Cây bưởi cho hoa Đến chơi cây cà Cây cà cho trái Đến chơi con gái Con gái cho chồng Đến chơi đàn ông Đàn ông cho vợ Đến chơi kẻ chợ Kẻ chợ cho voi Đến chơi cây sòi |
Cây sòi cho lá Đến chơi con cá Con cá cho vây Đến chơi ông thày Ông thày cho sách Đến chơi thợ ngạch Thợ ngạch cho dao Đến chơi thợ rào Thợ rào cho búa. Trả búa thợ rào Trả dao thợ ngạch Trả sách ông thày Trả vây con cá Trả lá cây sòi Trả voi kẻ chợ Trả vợ ông đàn Trả chồng con gái Trả trái cây cà Trả hoa cây bưởi Trả lưỡi cần câu Trả bầu thợ giác Trả bạc bà quan Trả gan con ngựa Trả nhựa cây sung Trả vung nồi trõ Trả mõ ông Chính.
|
Hát ngược
Chia làm hai phe, tìm những câu hát nói ngược không đúng thực tế để gây cười. Bên nào hát được nhiều câu là thắng. Dưới đây là một số câu:
- Bao giờ cho đến tháng ba
ếch cắn cổ rắn, tha ra ngoài đồng
- Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
- Ông trăng mà lấy bà trời
Tháng năm ăn cưới, tháng mười nộp treo
- Con lợn to bằng con mèo
Làng ăn chẳng hết, đem treo cột đình
- Con voi nằm dưới gậm giường
Cóc đi đánh giặc, bốn phương nhọc nhằn
- Chuồn chuồn thấy cám thì ăn
Lợn kia thấy cám, nhọc nhằn bay qua
- Trời mưa cho mối bắt gà
Cào cào đuổi cá, chui qua khe rào
- Chó con bắt trạch dưới ao
Có một quả đào, ném ngã năm cô
- Thóc giống cắn chuột trong bồ
Một trăm con muỗi đuổi vồ con trâu
- Chim chích cắn cổ diều hâu
Gà con tha quạ, biết đâu mà tìm
- Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi
Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai
- Hòn đá dẻo dai, hòn xôi chắc rắn
Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi
- Hương hoa thì hôi, nhất thơm là cú
Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu
- Con cá mày ở dưới ao
Tao tát nước vào, mày chạy đi đâu
- Ngồi buồn vác giỏ đi câu
Được ả Thị Màu con gái phú ông
- Sông Hồng rộng chẳng tày gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi
- Chơi cho quạt lá long nhài
Cầu Ô gãy nhịp, thuyền chài bong đinh.
- Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta
- Bao giờ trạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
- Lênh đênh bảy lá thuyền tình
Chìm ba bến nước mới tìm thấy hoa.
- Con rận bằng con ba ba
Đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh.
Oẳn tù tì
Thường hai em một chơi với nhau. Cùng đứng hay ngồi, tay đung đưa theo nhịp câu hát:
Oẳn tù gì
Ra cái gì?
Ra cái này!
Cả hai cùng chìa một tay ra ở các dạng:
- Nắm tay là cái búa, chĩa hai ngón trỏ và ngón giữa là cái kéo, chỉ một ngón là cái dùi, xòe cả bàn tay là cái lá.
Theo quy ước sau đây mà định được thua:
- Búa nện được kéo, được dùi, nhưng lại bị lá bọc.
- Lá thua kéo vì kéo cắt được lá, dùi đâm thủng lá.
- Dùi khoan được lỗ kéo.
Bài đồng dao này phổ biến khắp Bắc, Trung, Nam nhại theo âm trống tầm vông / tâm vinh (gọi theo Nghệ An) tức trống cơm:
|
Tập tầm vông Chị ăn kẹo, |
Em ăn cốm |
Cách chơi hiện nay của trò này là hai nguời chơi ngồi đối mặt nhau, vừa hát vừa theo nhịp đập lòng bàn tay vào nhau: hoặc đập thẳng, hoặc đập chéo, hoặc một cao một hạ thấp, hoặc kết hợp nhiều cách khác nhau. Nói chung, cách chơi rất giống trò Thìa la thìa lảy đây.
|
Nu na nu nống |
Con cóc nhảy ra |
Ðám trẻ ngồi thành hàng ngang, duỗi hai chân ra trước. Một đứa ngồi đối diện, lấy tay đập vào từng bàn chan theo nhịp từng từ một của bài hát trên. Dứt bài, từ "rụt" đúng vào chân em nào thì phải rụt nhanh. Nếu bị tay của cái đập vào chân thì em đó thua cuộc: ra làm cái ván chơi kế tiếp, hoặc chịu hình phạt (nhảy lò cò một vòng, trồng chuối...) hay phải đứng ra làm cái cho một trò chơi khác (bịt mắt bắt dê, ú tìm, cá sấu lên bờ...)
|
Tùm nụ, tùm nịu |
Con rắn, con rít trên trời |
Ðánh trống nhà rông |
Căn cứ vào hai câu "Tay nào có? Tay nào không?", đây là một trò đố: nắm một vật vào đó trong một tay và chìa hai nắm tay. Mở tay ra: đúng sai, có không....biết liền
Trò chơi thể hiện việc qua sông, qua bưng, ruộng...ngập nước. ở dưới nước có đỉa. Cả nhóm làm sao xuống nước mà đỉa không bắt chước.
Trước hết vẽ hai đường song song cách nhau độ 2m (hay qui định khoảng trống nào đó) giả định là sông nước. Một em ra giữa vòng vừa hát vừa lấy tay ra đập nhịp vào vai các bạn:
|
Thả đỉa / ba ba |
Ðổ mắm / đổ muối |
Từ "chịu" trúng em nào thì em ấy xuống sông làm "đỉa". Bọn trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông góc nọ. "Ðỉa" rượt để bắt. Bọn trẻ lại hát bài hát ghẹo
Sang sông / về sông / trồng cây / ăn quả / nhả hạt. "Ðỉa" rượt bên này thì bên kia xuống sông. "Ðỉa" quay lại bên kia thì lũ bên nọ lại réo lên: "ăn quả / nhả hạt" rồi ào xuống. Chẳng may ai bị "đỉa" vớ phải thì trở thành "đỉa".



Là trò chơi luyện tập sự nhịp nhàng. Giống như trò tập tầm vông, song bài ca lại là bài vè Con gái hư - chê tật xấu của các cô gái lười:
|
Thìa la thìa lảy, |
ăn quả là bốn |
TRÒ CHƠI CON TRE
Trò chơi của con gái. Số người chơi 2-5 người. Đồ chơi gồm có 10 que nhỏ và một quả tròn nặng (quả cà). Cầm quả cà ở tay phải tung lên không trung và nhặt từng que. Lặp lại cho đến khi quả cà rơi xuống đất là mất lượt. Chơi từ bàn 1 (lấy một que một lần tung cà) bàn 2 (lấy hai que một lần) cho đến 10, vừa nhặt quả chuyền vừa hát những câu thơ phù hợp với từng bàn. Một mốt, một mai, con trai, con hến,… Đôi tôi, đôi chị… Ba lá đa, ba lá đề v.v. Hết bàn mười thì chuyền bằng hai tay: chuyền một vòng, hai vòng hoặc ba vòng và hát: “Đầu quạ, quá giang, sang sông, trồng cây, ăn quả, nhả hột…” khoảng 10 lần là hết một bàn chuyền, đi liền mấy ván sau và tính điểm được thua theo ván.
Một trò chơi của trẻ nhỏ. Hai bên đứng đối diện nhau. Một người cầm hai đoạn tre, một ngắn một dài. Đào một hố nhỏ, dài dưới đất, đặt đoạn tre ngắn lên miệng hố, lấy thanh tre dài hất đoạn tre ngắn lên cao đánh thật mạnh văng ra xa. Nếu người đứng đối diện bắt được thanh tre, người đó sẽ được vào chơi thay.
Trò chơi của trẻ nhỏ. Đồ chơi là con quay bằng gỗ hay sừng hình nón cụt, có chân bằng sắt. Dùng một sợi dây, quấn từ dưới lên trên rồi cầm một đầu dây thả thật mạnh cho quay tít. Con quay của ai quay lâu nhất, người đó được. Có thể dùng một con quay khác bổ vào con quay đang quay mà nó vẫn quay thì người chủ của con quay đó được nhất.
Đánh Đáo
Nhong Nhong Cưỡi Ngựa "Bình Kho"
(Kính tặng các ông đã từng làm mưa làm gió trong làng đáo)
Ai đã sống quãng đời từ sáu, bảy, đến mười hai, mười ba tuổi, trên dải đất Việt Nam, từ Bắc vào Nam, chắc đều biết vài ba kiểu đáo.
Ðáo là trò chơi của con trai. Con gái thì nhảy giây, đánh chuyền... Còn gì vui nhộn cho bằng một sân trường trong giờ ra chơi. Dưới bóng mát của cây bàng, cây sấu hay cây phượng, cây me, chỗ này một nhóm đánh đáo, chỗ kia một đám đá cầu, bắn bị Reo hò cứ như là mổ bò... Giờ chơi bao giờ cũng quá ngắn ngủi. Lũ trẻ còn tiếc rẻ ván đáo dở dang, hẹn nhau hôm sau tiếp tục. Nếu hôm sau là chủ nhật thì sao? " Eo ơi ! lâu thế thì làm sao đợi được? ". Phải hẹn tới nhà nhau mà " đánh " tiếp chứ.
Trẻ con ham mê đánh đáo lắm... Chả cứ gì trẻ con, ngay cả người lớn cũng có nhiều người mê tơi vì đáo ! "Ðáo" là cái trò gì mà quyến rũ như vậy? Muốn biết là trò gì thì ta chỉ việc lật ... Mà thôi hãy khoan ... Chuyện chữ nghĩa lát nữa hãy bàn...
Mời bạn đi xem đánh đáo kẻo muộn ((2).
Huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú, hàng năm tổ chức chơi "đáo đá" vào ngày mồng 6 tháng giêng, để chọn người làm chủ tế ở đình cho suốt năm. Những người được làng cử ra chơi phải hội đủ mấy điều kiện: trên 50 tuổi, đông con cháu, gia đình đạo đức, không tang chế.
Tại sân đình, người ta đào một cái hào. Ðào xong, chính ông lí trưởng tự tay trồng hai cái cọc trong hào. Lúc chơi đáo, cứ hai cụ một ra chơi. Từ bờ hào, mỗi cụ được dùng sáu viên đá để ném vào cọc của mình. Cụ nào ném trúng giữa thân cọc, chỗ có dán tờ giấy điều là thắng cuộc, sẽ được làm chủ tế.
Làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên chơi "đáo hú", gần giống đáo đá. Người chơi vừa hú vừa ném viên đá sao cho trúng chân cọc. Mỗi người chỉ được ném một viên đá.
Làng Vọng Nguyệt, tỉnh Bắc Ninh có tục tổ chức đánh "đáo lỗ" tại sân đình vào ngày mồng 4 tháng giêng.
Tại mỗi đầu sân người ta đào 4 lỗ đủ rộng và sâu để có thể ném một viên gạch vào. Làng chọn 8 người có chức sắc ra chơi đáo. Những người này mặc bộ quần áo tế, chia làm hai phe, mỗi phe 4 người. Một hồi chiêng trống nổi lên báo hiệu bắt đầu trò chơi. Mỗi người cầm một viên gạch nhắm ném vào lỗ của đối phương. Ai ném trúng, được vào ngồi chiếu cỗ của làng. Ném không trúng thì phải lấy tà áo bọc viên gạch, đem đến bỏ vào lỗ. Bỏ rồi, đến trước bàn thờ thành hoàng làng khấn : "Con trót vụng về để thua ván đáo, vạn lạy ngài, xin ngài xá tội cho con".
Nổi tiếng và bình dân nhất có lẽ là "đáo đĩa" được tổ chức tại Bắc Ninh và Bắc Giang.
Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném đồng tiền vào một chiếc đĩa đặt trong một cái mẹt. Nếu đồng tiền nằm trong đĩa thì người chơi (nhà con) thắng giải. Văng ra mẹt thì thua, người tổ chức (nhà cái) ăn đồng tiền ấy. Văng ra khỏi mẹt, rơi xuống đất thì hòa, người chơi được lấy lại đồng tiền.
Ðáo đĩa khó hay dễ, tùy theo đĩa nhỏ hay lớn, vạch cấm xa hay gần. Giải thưởng có thể bằng tiền hay gói trà tàu, hoặc vuông nhiễu điều.
Có nơi thay đổi cách chơi, biến đáo đĩa thành "đáo ô". Chiếc đĩa được thay bằng chiếc khay kẻ ô. Mỗi ô được sơn màu trắng hay đen để phân biệt ô được, ô thua. Người chơi đứng ở vạch cấm ném đồng tiền vào khay. Tiền nằm trong khay thì theo màu ô mà định được thua. Tiền văng ra ngoài khay thì hòa.
Ðáo đĩa, đáo ô là hai trò chơi thường có ăn thua tiền bạc giữa nhà cái và nhà con. Nếu chỉ muốn mua vui, thử thời vận đầu năm, hay chỉ muốn khoe tài giữa bạn bè thì chơi "đáo cọc" của làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên.
Người ta trồng một cái cọc ở một mé sân đình. Ðầu cọc cắm cờ ngũ sắc, vừa đẹp vừa dễ thấy từ xa. Sáng mồng 3 Tết, ông tiên chỉ của làng làm lễ tại đình, rồi ra ném viên đá đầu tiên, khai mạc cuộc chơi. Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném những viên đá tròn tới chân cọc. Viên đá của ai nằm gần chân cọc nhất thì người đó thắng cuộc. Trò chơi càng hào hứng, vui nhộn mỗi khi có ai nhắm đánh văng bật viên đá của người khác ra xa chân cọc!
Chơi đáo tại hội làng là thú vui của người lớn, đúng hơn là của các ông. "Phép vua thua lệ làng". Lệ làng là như vậy ! Trẻ con chỉ được quyền chầu rìa, vỗ tay. Nghĩ cũng tức thật ! Chẳng lẽ con cháu cứ đứng nhìn cha ông vui chơi? Bỗng một ngày nào đó, trong đám trẻ nảy ra một bộ óc thông minh đầy sáng tạo, dám nghĩ rằng " Lệ làng phải hàng ... luật trẻ". Bộ óc này đã cả gan cải tiến, đổi mới những kiểu chơi của người lớn thành những trò tiêu khiển hoàn toàn của trẻ con: đó là những lối đánh đáo ngoạn mục và hào hứng. Phổ biến nhất phải kể hai món "đáo lỗ " và "đáo tường ".
Ðáo lỗ chơi chỗ nào cũng được, bao nhiêu người chơi cũng được, trừ ... chơi một mình ! Chỉ cần khoét một cái lỗ dưới đất, to nhỏ, nông sâu tùy theo thỏa thuận giữa người chơi. Muốn dễ chơi thì khoét lỗ to và sâu nằm giữa bãi đất. Những tay lão luyện thì chỉ cần một lỗ vừa khít kích thước đồng cái, thường là đồng hai hào ngày xưa, xấp xỉ bằng đồng 1 euro (tiền của Cộng đồng Châu Âu). Ðể làm tăng thêm khó khăn, các bậc đàn anh thường chọn chỗ đất nghiêng, khoét lỗ gần một chướng ngại vật, cạnh một gốc cây, sát một mảnh chai chẳng hạn ! Cạnh lỗ kẻ một lằn mức. Cách lằn mức này độ hai, ba mét là vạch cấm. Ðáo lỗ có nhiều luật lệ, tùy theo giao ước giữa người chơi.
Bắt đầu phải "đi cái" để định thứ tự chơi. Từ vạch cấm, ai thảy đồng cái gần lỗ nhất (trường hợp lí tưởng là ... bít kín lỗ), được chơi trước. Người chơi đứng ở vạch cấm thảy tiền đáo (tiền góp) lên quá lằn mức. Nếu có đồng nằm dưới lằn mức thì bị thua hoặc bị phạt, phải góp thêm tiền. Ðồng nào chạm hoặc rơi vào lỗ thì người khác được quyền đặt lại vào bất cứ vị trí nào. Trường hợp có nhiều đồng chồng dính lên nhau, người khác được tùy ý xếp lại thành đống lớn. Nếu người chơi đánh tan hết đống tiền thì thắng ván đáo, đánh tan một phần thì chỉ được những đồng đánh tan này. Ðây là lúc phải "bày binh bố trận " sao cho khéo, phải nghĩ ra những mẫu kiến trúc tân kì, đụng đến là văng tung toé, va chạm lung tung, người chơi sẽ bị phạt. Nếu không có tiền chồng dính nhau, thì người khác được chỉ định bất cứ đồng nào, người chơi phải đánh trúng đồng đó. Ðặc biệt là đồng nằm đụng lằn mức, đánh trúng nhưng vẫn còn phải nằm đụng lằn mức ! Lúc đánh, nếu chạm bất cứ đồng nào khác, ngoài những đồng được chỉ định, là bị phạt. Ðánh văng xuống dưới lằn mức hoặc chạm vào lỗ cũng bị phạt !
Lúc bắt đầu một ván đáo, mỗi đứa góp vài ba hào. Sau vài lần phạt, số tiền cứ tăng dần. Thỉnh thoảng có ván lên đến mấy đồng, bàn tay trẻ con cầm không hết, cả bọn phải đồng ý lấy bớt để ra ngoài ! Bắt đầu hồi hộp, gay cấn rồi đấy !
Có những cú đánh "thần sầu quỷ khốc ", đáng được ghi vào sách vở ! Có những ván "bất phân thắng bại ", cuối cùng đành phải hòa. Cao thủ gặp nhau mà lị !
Kẻ mới nhập môn làng đáo, còn e ngại đáo lỗ khó chơi, thường bắt đầu bằng "đáo điệu", còn gọi là "đáo thủ". Ðáo điệu dễ hơn đáo lỗ ở chỗ ... không có lỗ. Chỉ có lằn mức và vạch cấm. Giản dị hơn nữa thì chỉ khoét lỗ, không vạch lằn mức. Từ vạch cấm, thi nhau thảy đồng tiền vào lỗ. Trò chơi này có nơi cũng gọi là "đáo lỗ", có nơi chỉ gọi trống không là đáo để phân biệt với đáo lỗ có nhiều luật lệ kể ở trên.
Tại các thành phố lớn, vỉa hè được tráng xi măng, nhiều lúc không tìm ra khoanh đất để khoét lỗ, đành phải vẽ một vòng tròn con con thay vàọ Cách chơi tuy không thay đổi nhưng trò chơi đã giảm mất đôi phần thú vị. Thảy đồng cái vào lỗ là cả một tích lũy kinh nghiệm, kết quả của luyện tập lâu ngày. Ðất mềm hay cứng, nhẵn hay mấp mô? tùy địa hình mà đưa ra lối chơi thích hợp. Thảy tiền trên nền xi măng thì còn gì là hứng thú, hấp dẫn ! Còn đâu cái khoảnh khắc hồi hộp nhìn đồng tiền lướt nhẹ trên mặt đất, từ từ bít kín lỗ đáo? Ðứa khó tính bĩu môi "Chán bỏ xừ". Thế là cả bọn nhao nhao "Ử, chán bỏ xừ, chơi đáo tường thích hơn".
"Ðáo tường ", còn gọi là "đáo đập ", chỉ cần một lằn mức. Lúc chơi đập đồng tiền vào tường cho văng ra. Ðồng nào nằm gần lằn mức là hơn, vượt quá là thua. Ðứa thứ nhất được lấy đồng của mình chọi đồng của đứa thứ nhì. Chọi trúng thì được ăn đồng ấy và được chọi tiếp đồng của đứa thứ ba...Nếu chọi không trúng đồng nào thì đến lượt đứa có đồng ấy được chọi những đồng tiếp theo. Cứ lần lượt như vậy cho đến hết.
Ðáo tường chơi mau chán vì có ít luật lệ. Nếu chán thì còn "đáo móc ", gần giống đáo tường, chỉ khác ở chỗ lúc đập đồng tiền vào tường, bắt buộc phải đập móc, nghĩa là phải vung tay theo chiều từ dưới lên trên. Ðồng tiền văng theo đường cầu vồng trước khi chạm mặt đất.
Khó khăn lớn nhất của đáo tường, đáo móc là kiếm cho ra một bức tường để chơi mà không bị người lớn xua đuổi ! Nhiều khi không kiếm ra tường phải đập tạm vào cột, vào gốc câỵ "Cười gượng còn hơn mếu "!
Sau một buổi đáo sôi nổi, bức tường được trang điểm lấm tấm, đẹp như mặt rỗ hoa ! Bọn trẻ không hiểu nổi tại sao các bậc cha mẹ lại không ưa, không thích, thậm chí còn ghét hai món đáo này?
Thỉnh thoảng gặp cơn khó khăn, cả bọn trần như nhộng, không có đồng xu dính túi, hoặc bị mẹ cấm đánh bạc, chỉ còn nước rủ nhau giải trí lành mạnh, đánh đáo bằng một nắm xèng. Ðồng xèng là cái nắp bia bằng sắt được đập cho thành hình tròn bằng phẳng. Ðồng cái là một mảnh ngói hay một miếng gạch con con.
Mấy đứa thua phải làm ngựa cõng đứa được, chạy nhong nhong quanh gốc cây, hay chạy rồng rắn lượn qua lượn lại một vòng. Ngô Quý Sơn gọi con ngựa của trẻ con này là "ngựa Bình Kho " (le cheval Bình Kho)(2). Nhưng ông không cắt nghĩa, không nói tại sao lại gọi như vậy? Ngô Quý Sơn đã treo lủng lẳng một cái dấu hỏi trước mặt mọi người.
Ðã từng một thời mê đánh đáo, khoái chí quất ngựa nhong nhong bù lại những lúc phải cong lưng chở nặng chạy loanh quanh, tôi cứ bứt rứt, muốn tìm cho ra con ngựa Bình Kho này.
Tôi tự đặt câu hỏi :
Bình Kho là tên người, tên một giống ngựa, hay tên một nơi nuôi ngựa nổi tiếng?
Tìm kiếm trong mấy bộ sách sử kí,
Đỗ Văn Sáng @ 21:08 19/04/2010
Số lượt xem: 1265
- ĐÁNH ROI MÚA MỘC (06/06/09)
- CƯỚP CẦU (06/06/09)
- Đua thuyền (06/06/09)
- Kéo cưa lừa xẻ (06/06/09)
- Bịt mắt bắt dê (06/06/09)







Các ý kiến mới nhất